Việt Nam có tiềm năng điện gió ngoài khơi rất lớn

Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới cho thấy, Việt Nam có tiềm năng lý thuyết/kỹ thuật 475GW điện gió ngoài khơi. Còn theo Cơ quan năng lượng Đan Mạch thì Việt Nam có tiềm năng hoàn toàn khả thi là 162 GW, trong đó 132 GW điện gió ngoài khơi ở khu vực độ sâu đáy biển dưới 50m và 30 GW dùng công nghệ móng nổi.

CƠ HỘI THU HÚT ĐẦU TƯ

Trên thực tế, phát triển năng lượng tái tạo, trong đó có điện gió đã được Chính phủ đề cập từ rất sớm, năm 2011, Chính phủ đã có Quyết định 37/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam và đến năm 2018, có Quyết định 39/2018/QĐ-TTg sửa đổi Quyết định 37/2011/QĐ-TTg. Nhờ đó điện gió đã có bước phát triển đáng kể, tuy nhiên mới ở loại hình trên bờ và gần bờ.

Nhằm tận dụng những cơ hội phát triển điện năng lượng tái tạo, phù hợp với xu hướng chung của thế giới, trong đó có điện gió ngoài khơi, Bộ Công Thương đã đưa vào dự thảo Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII) với mục tiêu công suất điện gió ngoài khơi từ 2-3 GW đến năm 2030, chiếm từ 1,45% đến 2% trong tổng công suất nguồn điện đến năm 2030.

Lần đầu tiên ở Việt Nam, việc xác định khái niệm dự án điện gió ngoài khơi (là khu vực có độ sâu đáy biển lớn hơn 20m), công suất nguồn điện từ điện gió ngoài khơi tách biệt với điện gió trên bờ và gần bờ đã được nêu trong dự thảo Quy hoạch điện VIII.

Theo dự thảo, mặc dù tỷ trọng năng lượng tái tạo (không bao gồm thủy điện) chiếm gần 30% trong tổng nguồn điện đến năm 2030, quy mô công suất nguồn điện gió tăng gấp 3 lần và nguồn điện mặt trời gần gấp 2 lần so với Quy hoạch điện VII điều chỉnh nhưng chủ yếu là điện gió trên bờ và gần bờ tăng 9 GW, điện mặt trời thêm 7GW.

Đối với điện gió ngoài khơi, kịch bản phụ tải cơ sở thì đến năm 2030, công suất đặt là 2GW trong tổng số 137,662 GW, chiếm tỷ lệ 1,45%, còn theo kịch bản phụ tải cao thì đến năm 2030, công suất đặt là 3GW trong tổng số 147,552 GW, chiếm tỷ lệ 2%.

Theo nhiều tổ chức quốc tế và các nhà đầu tư, với công nghệ phát triển và sự cạnh tranh thì giá điện gió ngoài khơi ngày càng có xu hướng giảm. Báo cáo của Hiệp hội gió toàn cầu (GWEC) cho thấy, giá điện gió ngoài khơi năm 2010 là 255 USD/MWh nhưng đến 2020 chỉ còn 83 USD (giảm 67,5%) và dự kiến còn 58 USD vào năm 2025 (giảm tiếp 30,1%).

Chính vì vậy, Ngân hàng Thế giới và  Cơ quan năng lượng Đan Mạch, khuyến nghị Việt Nam cần xem xét nâng công suất điện gió ngoài khơi đến năm 2030 là 10 GW nhằm tận dụng tiềm năng sẵn có, mặt khác chỉ có dự án quy mô lớn mới đủ hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư phát triển các dự án điện gió ngoài khơi ở Việt Nam.

Với suất đầu tư từ 2,5 - 3 tỷ USD/GW điện gió ngoài khơi thì Việt Nam hoàn toàn có thể thu hút hàng trăm tỷ USD trong thập niên tới. Tỷ lệ nội địa hóa tới 50% thì đây còn là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển bền vững trong lĩnh vực này.

Thực tế, từ năm 2019, Tập đoàn Enterprize Energy (EE) đã nghiên cứu, đề xuất dự án điện gió ngoài khơi Thăng Long Wind với qui mô 3,4GW, tổng mức đầu tư là 11,9 tỷ USD, dự kiến phát điện giai đoạn 1 vào năm 2025 và giai đoạn cuối vào năm 2030.